NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỐI VỚI SINH VIÊN

15:06 28/03/2017

Qúa trình đào tạo trong trường đại học đòi hỏi vai trò tận tình hướng dẫn của người thầy về phương pháp và vai trò chủ động học tập của sinh viên. Sinh viên (SV) chủ động học tập không chỉ học trên lớp mà còn phải nghiên cứu khoa học (NCKH). Đây là nền tảng cho quá trình tự đào tạo, học tập suốt đời và đóng góp cho xã hội.

Thế nào là NCKH ?

Đã có không ít định nghĩa về NCKH, nhưng chúng tôi tâm đắc với định nghĩa: “NCKH là quá trình tìm ra những tri thức khoa học mới là một trong những hoạt động nhận thức”.

Vì thế, SV NCKH là tiến hành một quá trình nhận thức và hành động, đầu tư thời gian tương xứng với nội dung của đối tượng nghiên cứu và tính chất phức tạp của vấn đề nghiên cứu. Khi NCKH, SV phát hiện ra cái mới. Cái mới ở đây không chỉ mang tính chất khách quan đối với xã hội mà còn mang tính chất chủ quan của người nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu có thể chưa là một phát minh nhưng nó mang lại cho SV hiểu biết khoa học mới mẻ, hoặc các ứng dụng thực tiễn có tính thời sự.     

Yêu cầu đối với sinh viên trong NCKH

NCKH thành công phụ thuộc vào nhiều yếu tố, yếu tố quan trọng nhất là phẩm chất và năng lực của người nghiên cứu, là chính sinh viên. SV hiểu lý thuyết cơ bản của khoa học cụ thể, có kinh nghiệm thực tiễn nhất định, có thái độ tác phong NCKH và nắm vững phương pháp NCKH

  - Yêu cầu hiểu lý thuyết cơ bản của khoa học cụ thể

    SV trước hết phải nắm vững lý thuyết cơ bản của khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu, có như vậy mới chọn được đề tài nghiên cứu có giá trị, mới xác định những dữ liệu cần thu thập.

Ví dụ, một NCKH có tựa đề tài là: “ Nghiên cứu hoạch định chiến lược marketing cho Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su Miền Nam”. Chúng ta thấy ngay có sự sai lệch về kiến thức tiếp thị và quản trị kinh doanh. Chiến lược marketing chỉ gắn với một loại sản phẩm của công ty (vỏ ruột ô tô hoặc vỏ ruột xe đạp, . . .) tại một thị trường mục tiêu nhất định (thị trường nội địa là Việt Nam hoặc thị trường xuất khẩu là Úc, là Nhật, . . .) trong một khoảng thời gian xác định (từ năm nào đến năm nào). Không thể có chiến lược marketing chung chung cho cả Công ty. Trường hợp này, SV nên bổ sung kiến thức về khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu là marketing và nhờ GV hướng dẫn thêm.

Ngày nay, khối lượng thông tin khoa học gia tăng với qui mô lớn và nhịp độ nhanh đòi hỏi SV phải có kỹ năng đọc sách báo, kỹ năng lướt web, tra cứu trên Internet. SV nên tham khảo những công trình NCKH đã công bố. Ngoài ra, SV cần có vốn ngoại ngữ tốt để tham khảo tài liệu nước ngoài.

. - Yêu cầu có kinh mghiệm thực tiễn :

     Thực tế là những sự việc có thực, những tình hình cụ thể, những vấn đề đã hoặc chưa được giải quyết trong cuộc sống. Người nghiên cứu với kinh nghiệm bản thân công tác hằng ngày thường thấy được các mặt của vấn đề, mối quan hệ phức tạp, các diễn biến, phương hướng phát triển của sự vật. Muốn hiểu biết thì phải bắt đầu tìm hiểu. Muốn tập bơi phải nhảy xuống nước. Chính thực tiễn đã giúp con người  tìm thấy vấn đề một cách cụ thể. Có kinh nghiệm thực tiễn mới có khả năng thành công trong NCKH.

    SV có thể tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh ở các công ty qua những công việc làm bán thời gian vừa kiếm thêm thu nhập vừa có kinh nghiệm từ thực tiễn. SV có thể tham gia vào các công trình NCKH của các thầy cô giáo, của các anh chị khoá trước để tích luỹ kinh nghiệm.

   - Yêu cầu về thái độ và tác phong NCKH

     Trước hết, SV phải có lòng ham mê khoa học, quyết tâm tìm tòi chân lý. Nếu có quyết tâm thì từng bước SV sẽ thu thập thông tin, từng bước giải quyết vấn đề, và khi SV tiến được một bước, thì đó là cơ sở để tiến tới những bước mới. Có quyết tâm thì mới kiên trì nghiên cứu, khắc phục khó khăn,  SV rèn được thói quen tập trung tư tưởng cao độ, quan sát tỷ mỉ và thận trọng .

      NCKH đòi hỏi SV phải có tinh thần tập thể, ý thức kỷ luật cao trong công tác nghiên cứu. Nghiên cứu là một quá trình nhận thức nên thái độ  NCKH vẫn là thái độ trong học tập: phải khiêm tốn, trung thực, tránh kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn; phải luôn cầu tiến, tự nguyện tự giác trong công việc; phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do sáng tạo; phải bảo vệ chân lý, phải tuân thủ nguyên tắc như làm việc đúng giờ, đúng theo chương trình đã định, làm việc thiết thực, không được ba phải, xuề xoà; phải đoàn kết, hợp tác chặt chẽ trong nhóm nghiên cứu.

   - Yêu cầu nắm vững phương pháp NCKH

     Người NCKH còn phải nắm được phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và các phương pháp nghiên cứu cụ thể cũng như việc vận dụng các phương tiện nghiên cứu phù hợp với đề tài nghiên cứu.

     SV trước hết phải nắm vững quá trình nghiên cứu một đề tài. Một cuộc NCKH tiến hành theo các khâu nối tiếp nhau: chọn đề tài, soạn đề cương, thu thập dữ liệu, xử lý phân tích dữ liệu và viết công trình nghiên cứu.

 1. Chọn đề tài nghiên cứu :

Có nhiều phương thức phát hiện ra đề tài nghiên cứu. Ví dụ như tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các giáo sư trong ngành hoặc khi đến thực tập tại doanh nghiệp, SV nhận thấy nhiều vấn đề mà doanh nghiệp đang phải đối phó. SV cần chọn một vấn đề quan trọng nhất và cấp bách nhất để tiến hành nghiên cứu phù hợp với điều kiện hạn chế về ngân sách, thời gian nghiên cứu.

Trong giai đoạn này, SV thu thập dữ liệu ban đầu để tìm hiểu vấn đề chính xác hơn, để chính xác hóa và giới hạn đề tài nghiên cứu.

2.  Soạn đề cương nghiên cứu :

Ở bước này, SV vạch kế hoạch của quá trình nghiên cứu. Trong kế hoạch sẽ thiết lập giả thuyết, xác định các dữ liệu cần thu thập để kiểm chứng giả thuyết, các phương pháp được sử dụng để thu thập dữ liệu, các phương pháp xử lý phân tích dữ liệu, kinh phí, thời gian và nhân sự tham gia nghiên cứu. Nhờ có kế hoạch, cuộc nghiên cứu sẽ tiến hành một cách khoa học, hợp lý và hiệu quả.

 Khi nghiên cứu SV có thể sử dụng các loại dữ liệu bên trong doanh nghiệp như các hóa đơn, báo cáo bán hàng và bên ngoài dữ liệu có liên quan đến vấn đề, đã phổ biến trên báo, đài, trên mạng Internet, . . .Việc sử dụng các dữ liệu có sẵn sẽ tiết kiệm chi phí, thời gian nghiên cứu.

 Đối với các dữ liệu SV cần nhưng chưa có sẵn, phải tiến hành thu thập những dữ liệu trực tiếp bằng các phương pháp thích hợp. Tùy trường hợp và điều kiện cụ thể, có thể dùng phương pháp phỏng vấn cá nhân trực diện hoặc qua điện thoại, ví dụ phỏng vấn khách hàng đang đi mua sắm ở siêu thị, điều tra bằng thư, ví dụ gửi bảng câu hỏi đến nhà khách hàng, có thể dùng phương pháp thảo luận nhóm chuyên đề, phương pháp quan sát, phương pháp thử nghiệm.

 Để quan sát hay điều tra phỏng vấn, nhà nghiên cứu cần tiến hành chọn mẫu gồm một số lượng giới hạn các đối tượng mang tính đại diện cho tổng thể, ví dụ  350 khách hàng đại diện cho cả thị trường mục tiêu. Việc chọn mẫu nghiên cứu dựa trên lý thuyết xác suất thống kê. Sau khi có thông tin thu được từ mẫu nghiên cứu, nhà nghiên cứu sẽ suy rộng cho tổng thể nghiên cứu (cho cả thị trường).

 Công cụ thu thập thông tin quan trọng nhất khi dùng phương pháp điều tra, phỏng vấn là bảng câu hỏi hoặc phiếu tham dò ý kiến. Bảng câu hỏi sẽ tập trung vào việc thu thập các thông tin cần thiết, được sắp xếp theo một thứ tự hợp lý, dùng đồng loạt cho tất cả các phần tử trong mẫu nghiên cứu. SV phải thiết kế bảng câu hỏi, thử nghiệm, hoàn chỉnh bảng câu hỏi và in ấn để sử dụng cho việc thu thập.

 3. Thu thập, xử lý, phân tích dữ kiện và kiểm chứng giả thuyết

Các dữ liệu sẽ được thu thập, biên tập hiệu chỉnh để tránh sai sót hay mâu thuẫn. Sau đó, dữ liệu sẽ được mã hóa và nhập dữ liệu vào máy tính. SV nghiên cứu dùng phần mềm thống kê để mô tả hoặc phân tích, kiểm định giả thuyết đối với các biến số cần nghiên cứu. Do đó, SV cần nắm vững thống kê ứng dụng mới thực hiện được bước này.

 4. Trình bày kết quả nghiên cứu

SV nghiên cứu dựa trên những thông tin đã được xử lý để viết báo cáo kết quả nghiên cứu. Trong báo cáo, phải trình bày đầy đủ các kết quả hay các khám phá thu được trong quá trình nghiên cứu. Nếu có thể, SV sẽ nêu lên một số kiến nghị hay đề xuất nhằm giải quyết các vấn đề cho nhà quản trị doanh nghiệp tham khảo. Có thể kèm theo các minh họa bằng đồ thị biểu đồ, tranh, ảnh, đoạn phim. Tùy theo mục đích của đề tài nghiên cứu, công trình nghiên cứu được trình bày theo thể thức riêng cho từng loại đồ án, khoá luận, báo cáo chuyên đề, ...

 Trên đây là các giai đoạn chủ yếu của quá trình nghiên cứu một đề tài. Tuy nhiên không phải bất cứ một đề tài nào cũng phải thực hiện tất cả các khâu trên. Có những đề tài không nhất thiết phải có giả thuyết, ngoài ra các giai đoạn có khi tiến hành xen kẽ nhau, vừa tiếp tục thu thập tài liệu vừa hoàn chỉnh đề cương nghiên cứu, vừa chính xác hóa đề tài.

 NCKH đối với sinh viên là đòi hỏi có tính bắt buộc để trở thành một nhà trí thức thực tài, có khả năng cống hiến cho đất nước, cho xã hội. Chính vì vậy, ngay từ bây giờ SV phải bắt tay vào công tác NCKH với phẩm chất và năng lực cần thiết của người nghiên cứu. Lười biếng tìm hiểu, ít va chạm thực tế, không nắm vững các lý thuyết cơ bản của ngành học, chưa tự tiến hành các phương pháp NCKH sẽ làm thui chột tài năng của chính mình.